Thursday, April 8, 2010

Những câu đối hay

Những câu đối hay

Đối là một thể văn biến ngẫu gồm có hai câu gọi là hai vế song song và cân đối, thường ngắn gọn có khi chỉ năm bảy chữ nhưng ý nghĩa lại sâu rộng. Phát xuất từ Trung Quốc không rõ từ thời kỳ nào. Qua Việt Nam từ đầu thế kỷ XIII, phát triển mạnh trong các cuộc giao tiếp giữa vua quan Việt Nam & vua quan Trung Quốc.

Do tính chất sống động, đa năng và thông thoán của nó nên "đối" đã xâm nhập vào mọi sinh hoạt của đời sống xã hội. Làm gì cũng có đối, vui buồn cũng có đối, tóm lại từ đám cưới, lễ tang, lễ Tết v.v... từ cổng đến chùa, từ phòng văn phòng mạch đến tận phòng ngủ cũng có đối.

Với khả năng hạn hẹp, tôi cố gắng sưu tầm & giới thiệu cùng các bạn. Mong được sự đón nhận của các bạn.

----------------------------------------------------------------------

Nước trong leo lẻo cá đớp cá
Trời nắng chang chang người trói người


Vua Minh Mạng đi du ngoạn, vừa đến một làng kia thì dân chúng núp trong nhà không ai dám ra đường xem mặt vua. Chỉ có cậu bé Cao Bá Quát là dám đứng ngang nhiên ở giữa đường. Quân lính bắt trói quát tháo om sòm:

- Mi là ai mà vô lễ đến thế!

- Tôi là học trò đứng xem vua.

Vua Minh Mạng nghe nói liền bảo "nếu là học trò thì phải đối cho được câu này, nếu không đối được sẽ bị đòn". Vua vừa chỉ xuống cái ao bên vệ đường vừa đọc "Nước trong leo lẻo cá đớp cá". Quát không nghĩ ngợi đối liền "Trời nắng chang chang người trói người".

Nhà vua gật gù bảo quân lính mở trói.

------------------------------------------------------------------------

Quan huyện Ngọc qua đò Quý Ngọc
Con chó vàng ăn bãi cứt vàng.


Quan huyện sắp qua đò, lính hầu vung roi cho mọi người tránh chỗ. Thế mà có một cậu bé lại dám tranh lên đò một lượt với quan. Bọn lính xua đuổi, cậu ta cự nự, nói mình là học trò phải qua đò gấp kẻo trễ học. Quan huyện nghe thế liền bảo nếu là học trò thì phải biết đối và ra vế đối "Quan huyện Ngọc qua đò Quý Ngọc". Cậu bé ngó quanh quất thấy một con chó lúi húi ở bờ sông liền đối "Con chó vàng ăn bãi cứt vàng". Quan huyện đỏ mặt mà ngượng cười xòa, bảo lính cho cậu bé cùng qua đò một lượt.

------------------------------------------------------------------------

Học trò là học trò con, tóc bỏ lon xon là con học trò
Quan huyện là quan huyện thằng, xử kiện lằng nhằng là thằng quan huyện.


Nguyên do ở đây cũng không ngoài sự hống hách bắt nạt của quan tri huyện đối với cô bé "tóc bỏ lon xon". Câu đối kể trên, cậu học trò lấy con chó chọi lại quan huyện, vàng chọi lại ngọc, nghe đã đau điếng rồi. Ở câu đối này, con học trò thì nghe cũng chẳng sao, nhưng thằng quan huyện thì thật là xấu hổ! Và tóc bỏ lon xon thì có sao đâu, nhưng xử kiện lằng nhằng thì rõ ràng là một quan huyện dở, bất tài.

Câu đối một trăm phần trăm chỉnh về từ lẫn ý. Quan huyện lấy cô bé làm chủ đề, cô bé cũng lấy ngay quan huyện làm chủ đề chọi lại.

-----------------------------------------------------------------------

Đình tiền ngũ sắc hoa
Lung trung bách thanh điểu.

Hồi Tú Xương còn là cậu bé Uyên, có một ông khách đến nhà thăm bố cậu. Trước sân thấy có một cụm hoa năm sắc, bèn ra vế đối: "Đình tiền ngũ sắc hoa" (Bông năm sắc trước sân) và bảo cậu Uyên đối. Cậu chỉ cái lồng chim gần đó, đọc: "Lung trung bách thanh điểu" (Chim trăm tiếng trong lòng)

Khách đoán tương lai cậu Uyên sẽ như con chim trong lồng. Quả thật, như chúng ta đều biết, Tú Xương cùng thời với Nguyễn Khuyến, Dương Khuê mà hai vị này đỗ đạt làm quan đến Tổng đốc, vinh hiển suốt đời. Còn Tú Xương thì thi hỏng mãi nên phải lẩn quẩn trong nhà làm thơ tiêu khiển, "ăn lương vợ".

Có người hỏi tại sao bé Uyên không đối "Viên ngoại bách thanh điểu" (Chim trăm tiếng ngoài vườn) nhỉ? Viên là vườn, chữ này có xa lạ gì đâu! Chim ngoài vườn thì bốn mùa tự do bay nhảy hót ca. Theo ngụ ý thì vì cậu ta đã nhìn thấy ngay cái lồng chim treo gần đó bên trong có con chim hằng ngày cất trăm tiếng hót mà cậu rất thích. Chim trong lồng ăn ít và mất tự do nên hót nhiều và thống thiết, chim ngoài vườn ăn no và tự do nên ít hót mà chỉ thích đua bay.

-----------------------------------------------------------------------

Kinh sử thị lương điền, kỳ tiền bá dẫn kỳ hậu thừa dực
Thiên địa hữu chánh khí, bất đãi sinh tồn bất túy tử vong.


Nguyễn Quyền (1870-1942) lúc bé được ông nội, một vị túc nho kèm cặp. Một hôm, ông nội ra vế đối: "Kinh sử thị lương điền, kỳ tiền bá dẫn kỳ hậu thừa dực" (Kinh sử là ruộng báu, người trước dắt dìu người sau noi theo). Quyền đối: "Thiên địa hữu chánh khí, bất đãi sinh tồn bất túy tử vong" (Trời đất có chánh khí, chẳng sợ sống chết chẳng chờ mất còn). Ông nội khen, tiên đoán Quyền sẽ nên người và có thanh danh sự nghiệp.

------------------------------------------------------------------------

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.


Buổi học đã mãn nhưng trời còn mưa, học trò ra về chưa được, xúm xít nhau nói chuyện. Để thêm vui, thầy đồ ra vế đối: "Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách" (Mưa không (có) kềm khóa (mà) có thể giữ được khách). Một trò - Nguyễn Giản Thanh - đối: "Sắc bất ba đào dị nịch nhân" (Sắc đẹp không phải là sóng lớn mà dễ dìm đắm người). Một cậu khác - Nguyễn Chiếu Huẩn - đối: "Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân" (Mặt trăng có (giống) cây cung (mà) chẳng bắn ai). Thầy đồ phê, câu trước hay, sắc sảo nhưng nhuốm mùi sắc dục, e về sau hệ lụy đến thân. Câu sau không sắc sảo bằng nhưng có tính chất hiền hậu, sau này sẽ làm nên và trọn đời yên vui. Quả nhiên, Nguyễn Giản Thanh (Trạng Me) sau làm quan to nhưng vì mê muội một cô gái nên mất thanh danh sự nghiệp. Còng Nguyễn Chiếu Huẩn cũng làm quan mà cuộc đời yên ổn từ trước đến sau.

------------------------------------------------------------------------

Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò, đập nên dùi sắt.
Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi, giành được tam khôi.


Nhà sử học Lê Văn Hưu lúc bé đi học về ngang qua lò rèn, tò mò xem rồi hỏi bác thợ rèn, ông tổ của nghề rèn là ai vậy cụ? Bác thợ rèn cười hỏi lại, cháu học được bao nhiêu chữ rồi? Cậu bé đáp, có bao nhiêu sách thì đều đã học hết bấy nhiêu chữ. Bác thợ rèn khen, giỏi vậy à! Vậy thử đối câu này xem. Bác đọc vế đối trên: "Than trong lò, sắt trong lò...". Cậu bé lẩm nhẩm một chập rồi đọc vế dưới: "Nghiên ở túi, bút ở túi...". Bác thợ rèn phục tài, thưởng cho Hưu ba mươi đồng tiền và một cái dùi để đóng sách vở. Bác còn nói thêm với mấy người chung quanh, cậu bé này về sau sẽ thành một danh nhân.

Tam khôi là đỗ đầu cả ba khoa thi Hương, thi Đình, thi Hội. Đem "tam khôi" đối lại "dùi sắt" thì hơn cả vạn lần. Về sau, Lê Văn Hưu trở thành vị sử gia đầu tiên của nước ta.

-----------------------------------------------------------------------

Đồng tử lục thất nhơn vô như nhữ xảo
Lang trung nhị thiên thạch mạc nhược công liêm.


Vũ Công Duệ đang cùng mấy đứa bạn bày trò chơi bên vệ đường. Cậu dùng một củ khoai và mấy trái đậu làm thành một con voi, đặc biệt hai tai bằng hai cánh bướm, cái vòi bằng con đỉa, bốn bàn chân bằng bốn con cua nhỏ. Con voi do vậy mà vẫy tai, cuốn vòi và di chuyển được. Một vị quan lớn của triều đình đi thanh tra các địa phương giữa đường thấy vậy dừng lại xem. Lần hỏi, biết Duệ là học trò, ông ra vế đối: "Đồng tử lục thất nhơn, vô như nhữ xảo" (Trẻ con sáu bảy đứa, không có đứa nào khéo như mày). Vị quan lấy Duệ làm đề tài nên Duệ cũng lấy ông ta làm đề tài đối lại. Duệ hỏi quan làm chức gì, lương tháng bao nhiêu? Quan đáp: "Ta làm chức Lang trung, mỗi tháng lương hai ngàn giạ lúa". Duệ suy nghĩ vài phút rồi đối: "Lang trung nhị thiên thạch mạc nhược công...". Đến chữ "Công", Duệ cười bỏ lửng. Viên quan hỏi tại sao để thiếu chữ chót, Duệ nói nếu quan cho tiền thì tôi đặt chữ "liêm", nếu quan không cho tiền thì tôi đặt chữ "tham". Tất nhiên là viên quan không để Duệ đặt chữ "tham". Thành ra vế đối có nghĩa là: Quan Lang trung (lương) hai ngàn giạ lúa, không ai việc công mà liêm khiết bằng ngài.

-------------------------------------------------------------------------

Ngọc đình đình thượng nhân như ngọc
Kim bảng bảng trung sĩ tự kim.


Vế xuất là của quan Đốc ra đề thử tài ứng đối của Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm. Nó khởi đầu bằng một địa danh (Ngọc đình), rồi hai chữ "đình" liên tiếp. Lại đầu câu cũng chữ "ngọc", cuối câu cũng chữ "ngọc". Vế xuất tuy ngắn mà thật hiểm hóc. Kỳ Đồng đối rất chỉnh, chữ nào xứng chữ nấy và nắm phần ưu thắng: "Kim" (vàng) đối "ngọc" (ngọc), "sĩ" (kẻ sĩ) đối "nhân" (người thường).

Lớn lên, Nguyễn Văn Cẩm (1875-1929) là một chí sĩ yêu nước của Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

-------------------------------------------------------------------------

Khổng môn truyền đạo chư hiền, Tăng tử, Tử tư, Mạnh tử
Chu thất khai cơ liệt thánh, Thái vương, Vương quý, Văn vương.



Vế trên (xuất) là của vị quan đầu tỉnh, có nghĩ là: Cửa Khổng truyền đạo cho các vị hiền Tăng tử, Tử tư, Mạnh tử. Vế dưới (đối) là của Kỳ Đồng, có nghĩa là: Nhà Chu dựng nền móng thì có các vị thánh Thái vương, Vương quý, Văn vương.

Cậu bé Cẩm phải rất thông minh và học rộng mới trong giây lát mà tìm ra được ba vị danh nhân đế vương trong cổ sử Trung Hoa để đối lại rất chỉnh, rất cừ. "Thánh" ăn đứt "hiền", "vương" ăn đứt "tử".

--------------------------------------------------------------------------

Quân tử cố cùng, quân tử cùng, quân tử cố
Khổng Minh cầm túng, Khổng Minh túng, Khổng Minh cầm.


Một cậu học trò nghèo hết tiền hết gạo bèn đem áo đi cầm (thế) để chạy bữa, đến nhằm nhà một vị phú nho. Sau khi hỏi biết sự tình, cụ ta ra một vế đối bảo cậu nếu đối được thì cụ giúp cho ăn học đến nơi đến chốn. Cụ ra vế đối trên, có nghĩa là: Người quân tử bền lòng lúc cùng, người quân tử cùng, người quân tử bền lòng. Cậu gãi tai mấy cái rồi đối (vế dưới) có nghĩa là: Ông Khổng Minh bắt rồi tha, ông Khổng Minh tha rồi bắt. (Điển tích Thất Cầm Mạnh Hoạch trong Tam Quốc Diễn Nghĩa)

Vế xuất, mấy chữ cố cùng, cùng, cố rất hiểm. Vế đối, mấy chữ cầm túng, túng, cầm hiển thị sự nghèo túng phải tạm cầm áo, đáp ứng đúng cái nghĩa "người quân tử bền lòng" ở vế xuất. Hay!
caikeo (Sưu tầm)
“Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ
Xuân mãn càng khôn, phúc mãn đường”


(Trời thêm tuổi mới, năm thêm thọ
Xuân khắp càn khôn, phúc khắp nhà)

“Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo Ma vương đưa quỷ tới,

Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ rước Xuân vào”

(Hồ Xuân Hương)

“Chiều ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa,

Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà"

(Nguyễn Công Trứ)

“Tối ba mươi, giơ cẳng đụng cây nêu
Ủa ! Tết !

Sáng mồng một, lắng tai nghe lời chúc
Ồ ! Xuân !” ()


“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” ()

- Phước thâm tự hải (hạnh phúc nhiều sâu như biển)
- Lộc cao như sơn (của cải nhiều cao như núi)

Có là bao, ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm cái Tết
Ước gì nhỉ, một năm mười hai tháng, cả bốn mùa Xuân. ()

Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ
Nhân bách hạnh hiếu vi tiên.

(Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa Xuân;
Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết.)

Xuân tha hương, nhấp giọt rượu sầu, nhớ vòm trời đất nước !
Tết xứ người, hớp ngụm cafe đắng, thương mảnh đất quê nhà !
(Quảng Ngôn)

Tân niên hạnh phúc bình an tiến
Xuân nhật vinh hoa phú quý lai

Nghĩa là:
Năm mới hạnh phúc bình an đến
Ngày Xuân vinh hoa phú quý về.

Ðuột trời ngất một cây nêu, tối ba mươi ri là Tết
Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa cũng Xuân
(Nguyễn Công Trứ)

Ðấp gốc cây cao, Tết đến thắp hương thơm đèn sáng,
Khơi nguồn nước mát, Xuân về dâng trái ngọt hoa thơm.

Tối ba mươi, nợ réo tít mù, ấy mới Tết,
Sáng mồng một, rượi tràn quí tị, ái chà Xuân.

Tết có cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi,
Nợ đâm ương ra đó, nói ba bốn chuyện cà riềng.
(Nguyễn Công Trứ)

Ba vạn sáu ngàn ngày, góp lại chốc đà trăm bận Tết,
Một năm muời hai tháng, ước chi đủ cả bốn mùa Xuân.

Nực cười thay! Nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà Tết,
Thôi cũng được! Rượu có, nem có, bánh chưng đều có, thừa Xuân.
(Tú Xương)

Ủa! Tết đến rồi đó, chẳng lẽ trơ cùi cùng tuế nguyệt,
Kìa! Xuân sang đấy ư, thôi đành mở múi với giang sơn.

Ngào ngạt mùi hương, dẫu tại đất người, không mất gốc,
Lung linh ánh lữa, dù xa quê cũ, chẳng quên nguồn.

Xuân vẫn còn dài, hướng đến tương lai vùng đất mới,
Tết dù đã ngắn, quay nhìn dĩ vãng cảnh người xưa.

Già trẻ gái trai đều khoái Tết,
Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân.

Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó,
Ông đây khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm mèo
(Nguyễn Khuyến)

Đêm 30 nghe tiếng pháo nổ... Đùng !... ờ ờ... Tết
Sáng mùng 1 ra chạm niêu đánh... Cộc !... á à... Xuân

Xuân tha hương, sầu thương về quê mẹ
Tết xa nhà, buồn bã nhớ quê cha

Tết với chả xuân, sáng mì gói tối mì gói, sợ vợ buồn ngán mà không bỏ nuốt vội để mà no
Dậu rồi thì Tuất, xưa kéo cày nay kéo cày, lo chủ đuổi mệt chẳng dám ngưng làm nhanh không mất việc.

Số lông vịt xác xơ, tiền chỉ mấy xu, sắm nào được gì, nên không mong tết
Đời ve chai tan nát, tuổi đà dăm bó, cho có ai thèm, mới chẳng tiếc xuân.

Đêm ba mươi, đếm tờ lịch, ba mươi tờ buồn xa tháng cũ
Sáng mồng một, ngắm cành mai, đơn một cành vui đón năm mới.

Khoai lang sùng nhúng bột… chiên, đậm đà vị mứt mốc, thẫn thờ tưởng nhớ tết quê cha
Hột mít sượng lùi tro… nướng, thoang thoảng mùi chè thiu, đờ đẫn mơ màng xuân đất mẹ.

Tết tha hương có bánh chưng, bánh tét sao không thấy tết
Xuân viễn xứ cũng cành đào, cành mai mà chẳng gặp xuân.

Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ
Xuân khắp mọi nơi, phúc khắp nhà

Niên hữu tứ thời, xuân vi thủ
Nhân sinh bách hạnh, hiếu vi tiên
1.Hồng phát lập trường sinh ý toại
Khai trương trùng điệp đáo lai xuân


2. Xuân an khang đức tài như ý
Niên thịnh vượng phúc thọ vô biên

3. Chúc Tết, Chúc cả nước nêu cao bầu nhiệt huyết,
Dốc toàn tâm sức, Dựng cơ đồ Đất Việt phồn vinh

Mừng xuân, Mừng toàn dân siết chặt khối đồng tâm
Đem hết tài năng, Xây bờ cõi Nước Nam vững chãi

4.
Lộc biếc, mai vàng, xuân hạnh phúc

Đời vui, sức khoẻ, Tết an khang.

5.
Đi giữa chợ hoa xuân, cảnh sắc tưng bừng, nhớ chốn biên cương sương tuyết phủ

Bước vào khu chợ Tết, âm thanh nhộn nhịp, thương nơi hải đảo gió mưa gào

1. Lộc Cha tươi thắm như hoa tết

Phúc Mẹ dạt dào tựa hương Xuân.

2. Tết đến Thánh Linh ban ngàn phúc

Xuân về Từ Mẫu đổ muôn ân.

3. Ngày Xuân hạnh phúc Bình an đến

Năm mới vinh hoa Phúc Lộc về.

4. Đón tết Thiên Đàng vui hướng thượng

Mừng Xuân hạ giới sống yêu thương.

5. Tết đến công Cha luôn ghi khắc

Xuân về nghĩa Mẹ mãi nhớ lâu.

6. Niên niên như ý Xuân

Tuế tuế bình an Nhật

LM Stêphanô Huỳnh Trụ
1. Kết liên Thánh Kinh Tình Yêu Chúa.
Thông hợp Tin Mừng sức sống dân.

2. Xuân mới chan hoà trên đất nước.
Tin Mừng loan báo đến muôn dân.

3. Đức ái Thánh Gia soi trần thế
Lương Thần Mình Chúa dưỡng thánh nhân.

4. Mình Chúa dưỡng sức dân, tâm niệm lộc thần phúc vô biên
Thánh Kinh truyền tình Chúa, thực hành Lời Thánh xuân bất tận.

5. Đức ái Thánh Gia, như hoa xuân toả hương cho trần thế
Lương Thần Mình Chúa, tựa nắng sớm bồi sức dưỡng thánh nhân.

6. Tình Chúa tựa ánh xuân, nhân nghĩa ấm nồng che trời đất
Ơn Trên như mưa móc, đức cao lan toả phủ thế nhân.

7. Tất cả mừng Năm Thánh, phúc thật mang đến,
nhà nhà bình an thánh thiện

Cùng nhau đón tuổi xuân, Thánh Thần sáng soi,
người người thuận thảo an vui.

8. Cha Hiển Thánh mến thương, hoàn vũ tán dương,
hoàn vũ nghinh lạc hưởng

Phúc Tin Mừng hoan hỷ, mọi nhà truyền quý,
mọi nhà sống an vui.

9. Nồng ấm nhân gian, muôn vật đổi mới,
xuân mừng Năm Thánh

Thịnh hưng thế giới, một Nguồn hồi đầu,
Rồng đón Hồng ân.

10. (Lục bát) Xuân về nồng ấm nhân gian,
Thế trần đổi mới, ngập tràn Thánh Ân.

Rồng bay thịnh thế hưng nhân,
Đón mừng Năm Thánh tựu nguồn Chúa Xuân.

11. Canh tân tứ đức, thế giới thái bình Trời phù hộ
Vững mạnh bảy ơn, gia đình hoà thuận Chúa thông ban.

12. Nhà nhà khá giả thuận hoà, con hiền cháu hiếu,
đồng tâm ca tụng Chúa

Cửa cửa quang thông hoan hỷ, quốc thái dân an,
hợp tiếng ngợi khen trời.

13. Tết đến đầu năm ơn Chúa viếng
Xuân qua mãn thọ phúc con trông.

14 Ngưỡng vọng lên trời,
nên hiền nên thánh nhờ tâm quyết

An sinh tại thế, dựng nghiệp dựng công cậy chí kiên.

15 Nên hiền nên thánh nhờ tâm quyết
Dựng nghiệp dựng công cậy chí kiên.

Tổ tiên công đức sinh ra rượu
Con cháu thảo hiền vạn kiếp say
Tết đến không tiền vui chi tết
Xuân về hết gạo đón chi xuân
:D

Labels

Followers